MỘT SỐ KẾT QUẢ SAU THỜI GIAN VẬN DỤNG “ PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NĂN BỘT” VÀO DẠY HỌC

MỘT SỐ KẾT QUẢ SAU THỜI GIAN VẬN DỤNG

“ PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NĂN BỘT” VÀO DẠY HỌC

I. "Bàn tay nặn bột" là gì?

"Bàn tay nặn bột" là một phương pháp dạy học tích cực, và hơn thế nữa, một chiến lược về giáo dục khoa học do các nhà khoa học Pháp khởi xướng cho phép đáp ứng những yêu cầu dạy học mới. Vì thế, Bàn tay nặn bột đã được vận dụng, phát triển và có ảnh hưởng sâu rộng đến giáo dục khoa học không chỉ ở Pháp mà còn ở rất nhiều khu vực, nhiều nước khác trên thế giới trong đó có khu vực Đông Nam Á

Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn tự nhiên. Thực hiện phương pháp “Bàn tay nặn bột”, dưới sự giúp đỡ của GV, chính HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu.

Phương pháp "Bàn tay nặn bột" là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợp cho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với bậc tiểu học và trung học cơ sở, khi học sinh đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học, hình thành các khái niệm cơ bản về khoa học. Tập trung phát triển khả năng nhận thức của học sinh, giúp các em tìm ra lời giải đáp cho những thắc mắc trẻ thơ bằng cách tự đặt mình vào tình huống thực tế, từ đó khám phá ra bản chất vấn đề.
Chương trình “Bàn tay nặn bột” là sự quy trình hóa một cách logic phương pháp dạy học, dẫn dắt học sinh đi từ chưa biết đến biết theo một phương pháp mới mẻ là để học sinh tiếp xúc với hiện tượng, sau đó giúp các em giải thích bằng cách tự mình tiến hành quan sát qua thực nghiệm. Phương pháp này giúp các em không chỉ nhớ lâu, mà còn hiểu rõ câu trả lời mình tìm được. Qua đó, học sinh sẽ hình thành khả năng suy luận theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ và hình thành tác phong, phương pháp làm việc khi trưởng thành.

      Mục tiêu của phương pháp BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của HS. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp BTNB còn chú ý nhiều đến việc hình thành năng lực nghiên cứu khoa học; rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho HS. Học sinh cần phải hiểu rõ câu hỏi đặt ra hay vấn đề trọng tâm của bài. Để đạt được yêu cầu này, bắt buộc HS phải tham gia vào bước hình thành các câuhỏi.Tự làm thí nghiệm là cốt lõi của việc tiếp thu kiến thức khoa học. Trong quá trình làm thí nghiệm trực tiếp, HS sẽ tự đạt câu hỏi, tự thử nghiệm các thí nghiệm để tìm ra câu trả lời và rút ra các kết luận.

       Tìm tòi nghiên cứu khoa học đòi hỏi học sinh nhiều kĩ năng. Một trong các kĩ năng cơ bản đó là thực hiện một quan sát có chủ đích:

       Tìm tòi nghiên cứu khoa học yêu cầu học sinh nhiều kĩ năng như: kĩ năng đặt câu hỏi, đề xuất các dự đoán, giả thiết, phương án thí nghiệm, phân tích dữ liệu, giải thích và bảo vệ các kết luận của mình thông qua trình bày nói hoặc viết. Học khoa học không chỉ là hành động với các đồ vật, dụng cụ thí nghiệm mà học sinh còn cần phải biết lập luận, trao đổi với các học sinh khác, biết viết cho mình và cho người khác hiểu. Các ý tưởng, dự kiến, dự đoán, các khái niệm, kết luận cần được phát biểu rõ bằng lời hay viết, vẽ ra giấy để chia sẻ thảo luận với các học sinh khác. Việc trình bày bằng lời hay yêu cầu viết ra giấy cần phải sử dụng linh hoạt, phù hợp với từng hoạt động.

Giáo viên phải giúp HS xác định được tài liệu cần đọc, thông tin cần tìm kiếm để định hướng quá trình nghiên cứu tài liệu của mình. Cần thiết phải để HS tiến hành các thí nghiệm, thảo luận tranh luận với nhau trước khi yêu cầu tìm kiếm thông tin trong tài liệu để kích thích HS nhu cầu tìm kiếm thông tin. Khi HS làm việc cùng nhau trong các nhóm nhỏ hay các đội, các em làm công việc tương tự như hoạt động của các nhà khoa học, chia sẻ ý tưởng, tranh luận, suy nghĩ về những gì cần làm và phương pháp để giải quyết vấn đề.

      Thực chất của phương pháp bàn tay nặn bột là học sinh đưa ra các tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu với HS. Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề. Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học. Câu hỏi nêu vấn đề cần bảo đảm yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của HS nhằm chuẩn bị tâm thế cho HS trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức. GV phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng.

            II.  Các nguyên tắc cơ bản của dạy học theo PP BTNB :
            - Trong dạy học theo PP BTNB , hs quan sát tiến hành làm thực nghiệm .. để khám phá tìm hiểu một đối tượng của thế giới thực gần giũ 
            - Trong quá trình thực nghiệm hs sẽ phân tích suy luận thảo luân chung và tranh luận với bạn và gv về những ý tưởng hay kết quả thực nghiệm , từ đó các em sẽ xây dựng kiến thức cho mình 
               - Mục đích quan trọng của thực nghiệm là giúp hs tiếp cận dần với tri thức khoa học , có kỹ năng thực hành và củng cố kỹ năng diễn đạt theo cả hai hình thức ngôn ngữ Nói – Viết 
            - Các hoạt đọng mà gv đưa ra phải được tổ chức sao cho đảm bảo mức độ tiến bộ dần trong học tập của hs . Việc xây dựng các hoạt động này trên cơ sở chương trình , SGK nhưng cũng để cho hs có sự tự chủ , sự độc lập , sáng tạo 
            - Mỗi chủ đề có thể thực hiện trong nhiều tuần nhưng ít nhất một tuần cũng phải có hai tiết học về chủ đề đó 
            - Mỗi hs phải có một cuốn vở ghi chép khoa học ghi lại ý kiến cá nhân , ý kiến thảo luận , kết luận , .. và được trình bày theo ngôn ngữ của chính hs 
            - Gia đình , công đồng khuyến khích ủng hộ và tham gia vào các hoạt động trên lớp học 
            - Các nhà khoa học được huy động tham gia giúp đỡ các hoạt động của lớp học theo khả năng chuyên môn của mình 
            III.  Ưu điểm của PP BTNB :
            - Hs là người chủ động trong các hoạt động học tập , tự xây dụng kiến thức thông qua khám phá , thử nghiệm , thảo luận , hợp tác với bạn , dưới sự định hướng giúp đỡ của gv . Từ đó hs nắm vững kiến thức , phát triển năng lực nhận thức và tư duy sáng tạo ; phát triển năng lực quan sát , thực hành ; kỹ năng làm việc hợp tác theo nhóm... . Góp phần phát triển năng lực tự học của hs 
            - Rèn kỹ năng diễn đạt qua ngôn ngữ nói và viết . Giúp hs phát triển khả năng diễn đạt , ngôn ngữ khoa học 
            IV.  Khó khăn hạn chế của PP BTNB :
            - Do hs chiếm lĩnh kiến thức thông qua việc tìm tòi , khám phá của bản thân , trong đó hs suy nghĩ đưa ra những ý kiến của bản thân , phải quan sát thực hành , phải trao đổi thảo luận ....có thể những hoạt động cần thức hiện vài lần nên khi áp dụng pp này trong dạy học thường mất nhiều thời gian 
            - Trong quá trình tìm tòi kiến thức , có những vấn đề, tình huống nảy sinh hs cũng có thể có những câu hỏi mà gv chưa thể trả lời ngay 
            V.  Tiến trình sư phạm của PP BTNB :
            1. Bước 1: Đưa ra tình huống xuất phát và nêu vấn đề :
            - Nhiệm vụ của hs : Quan sát ; thực hiện thí nghiệm ( Làm xuất hiện tình huống )
 - Vai trò của gv : Chuẩn bị một tình huống có liên quan đến vấn đề khoa học đặt ra .
            2. Bước 2 : Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu của hs .
 - Nhiệm vụ của hs : + Đặt ra các câu hỏi 
 + Trình bày các ý tưởng của mình , đối chiếu với các bạn khác( hs ghi vào vở biểu tượng ban đầu của mình ) 
Vai trò của gv : 
+ Kiểm soát lời nói , cấu trúc câu hỏi , chính xác hóa từ vựng của hs .
 + Chính xác hóa các ý tưởng của hs , tổ chức đối chiếu các biểu tượng ban đầu của hs .
3. Bước 3: Đề xuất câu hỏi ( Dự đoán / giả thuyết ) và phương án tìm tòi .
- Nhiệm vụ của hs : + Bắt đầu những vấn đề khoa học được xác định , nêu câu hỏi 
( Xây dụng dự đoán / giả thuyết ) – ( hs : sử dụng vở )
+ Hình dung có thể tìm câu trả lời : - Thí nghiệm ( Ghi vở )
- Quan sát 
+ Kiểm chứng các dự đoán / giả thuyết bằng cách : * Điều tra . 
* Nghiên cứu tài liệu 
- Vai trò của gv : + Giúp hs hình thành các vấn đề khoa học và tiếp theo là đưa ra các dự đoán / giả thuyết khoa học ( chú ý làm rõ và quan tâm đến sự khác biệt giữa các ý kiến )
+ Tổ chức việc đối chiếu các ý kiến sau một thời gian đủ để hs có thể suy nghĩ .
+ Khẳng định lại các ý kiến về phương pháp tìm tòi mà hs đề xuất .
4. Bước 4 : Thực hiện phương án tìm tòi .
- Nhiệm vụ của hs : + Tìm tòi câu trả lời , kiểm chứng các dự đoán / giả thuyết bằng một hoặc một số phương pháp đã hình dung ở trên ( thí nghiệm , quan sát , điều tra , nghiên cứu tài liệu ) 
+ Thu nhận các kết quả và ghi chép lại để trình bày .
- Vai trò của gv : + Tập hợp các điều kiện về thí nghiệm , tài liệu ...nhằm kiểm chứng các ý tưởng được đề xuất .
+ Giúp hs phương pháp trình bày kết quả .
5 . Bước 5 : Kết luận kiến thức .
- Nhiệm vụ của hs : Kiểm tra lại tính hợp lý của các giả thuyết :
+ Nếu giả thuyết sai , quay lại bước 2.

+ Nếu giả thuyết đúng : Kết luận và ghi lại chúng .
- Vai trò của gv : + Động viên hs và yêu cầu bắt đầu lại tiến trình nghiên cứu .

VI.  Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng phương pháp BTNB tại Việt Nam

1. Thuận lợi

Hiện nay, Bộ GD-ĐT đang thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học là một trong các nhiệm vụ cấp bách. Cùng với các phương pháp dạy học tích cực khác đang tiếp tục thực hiện, tháng 12/2011 Bộ GD-ĐT quyết định thực hiện đề án "Triển khai phương pháp Bàn tay nặn bột ở trường phổ thông giai đoạn 2011-2015"

Phương pháp BTNB là một phương pháp có tiến trình dạy học rõ ràng, dễ hiểu, có thể áp dụng được ở điều kiện các trường THCS hiện nay. Qua một số tiết áp dụng phương pháp BTNB trong dạy bộ môn Hóa học, Vật lý, Sinh học, có thể nhận thấy sự ham thích, hứng thú của học sinh với những hoạt động tìm hiểu kiến thức mới. Điều này chứng tỏ học sinh luôn ham thích được học tập, hăng say tìm tòi và sáng tạo.

2. Khó khăn

a) Về điều kiện, cơ sở vật chất

Hiện nay, bàn ghế lớp học được bố trí theo dãy, nối tiếp nhau, không thuận lợi cho việc tổ chức học theo nhóm; phòng học học bộ môn và phòng thí nghiệm chưa đủ chuẩn để thuận lợi cho việc giảng dạy các bộ môn khoa học.

Trang thiết bị chưa đầy đủ, còn thiếu các phương tiện hỗ trợ hoạt động báo cáo, thảo luận của học sinh như máy tính, máy chiếu vật thể,…; tài liệu bổ trợ cho hoạt động tìm tòi - khám phá ... Dụng cụ thí nghiệm còn chưa đồng bộ và độ chính xác không cao nên rất khó khi học sinh tự làm thí nghiệm.

b) Chương trình sách giáo khoa

Hiện nay, cấu trúc, chương trình sách giáo khoa bố trí theo bài, không theo chủ đề có tính hệ thống; một số kiến thức của bài dạy còn dài dòng và có nhiều phần chưa phù hợp dạy theo phương pháp BTNB.

Học sinh thường lệ thuộc vào nội dung có sẵn trong sách giáo khoa, hạn chế đến việc tìm tòi, tự bộc lộ quan điểm, ý kiến cá nhân.

c) Về đội ngũ giáo viên

Với phương pháp BTNB, để có thể cung cấp những kiến thức toàn diện và kỹ năng thực hành mới cho học sinh sẽ mất rất nhiều thời gian, đòi hỏi giáo viên cần phải có sự chuẩn bị kỹ càng, chu đáo, dự kiến nhiều tình huống cần giải quyết… Nếu không sẽ ảnh hưởng đến thời lượng của toàn tiết học và các môn học khác.

Áp dụng phương pháp BTNB, nếu kiến thức khoa học, năng lực giáo viên hạn chế sẽ bỡ ngỡ, lúng túng khi xử lý tình huống giảng dạy (nhất là tình huống mở đầu), trong việc trả lời, giải đáp các câu hỏi, thắc mắc của học sinh nêu ra …

d, Về học sinh

Số học sinh trên một lớp quá đông nên việc tổ chức học tập theo nhóm rất khó khăn. Điều này cũng gây khó khăn trong tổ chức các hoạt động thực tế cho học sinh.

Trình độ của học sinh không đồng đều, khó tiếp cận với phương pháp giảng dạy mới. Nếu lớp học thụ động, kiến thức yếu thì tình huống đưa ra các em sẽ không tìm được vấn đề cần đặt ra, không đề xuất được thực nghiệm, sẽ không dự báo được kết quả thực nghiệm … và tiết dạy theo phương pháp này không hiệu quả.

VII. Một số kinh nghiệm rút ra sau một thời gian vận dụng phương pháp BTNB

Để bài học thành công phải tạo cho các em nhiều cơ hội để trải nghiệm (như thực hành, thí nghiệm) thì các em mới hình thành được kĩ năng và trở thành thói quen (kĩ năng viết phiếu cá nhân và bảng phụ). Phải dùng những lời khen ngợi, động viên khích lệ thậm chí đề cao các em sẽ khiến các em tự tin hơn, hứng thú hơn trong tiết học. Đồng thời phải tạo cho học sinh cơ hội được nói, được bày tỏ ý kiến nhiều trong giờ lên lớp (cho học sinh hỏi đáp) cũng như các hoạt động ngoại khóa. Và muốn các em đạt được đến đích bài học ngày hôm nay thì các em phải nắm được đích của những bài học trước. Bởi vì kiến thức luôn được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm, nó luôn có sự liên hệ gắn bó mật thiết giữa kiến thức cũ và mới chứ không đứng độc lập một mình trong một bài học. Nhưng để làm được như vậy thì tôi nghĩ, giáo viên phải hiểu học sinh nhiều hơn để biết các em muốn gì, thích gì, và nghĩ gì? Lúc này người giáo viên phải thoát li cương vị là người thầy dạy kiến thức mà phải hóa thân vào làm người đi tìm tòi kiến thức hay nói cách khác phải hóa thân thành người học sinh.

Giáo viên phải quan sát học sinh một cách tinh tế, tạo cơ hội phỏng vấn trò chuyện với các em thì mới biết được học sinh gặp những khó khăn vướng mắc gì. Khi phát hiện nhiều học sinh gặp khó khăn thì giáo viên phải chủ động dừng hoạt động đang tiếp diễn lại và phải khéo léo dùng những câu hỏi gợi mở để tháo gỡ khó khăn cho các em. Trong những tình huống như thế này thì vai trò của giáo viên rất quan trọng trong việc định hướng, gợi ý giúp đỡ các em. Nếu dạy theo phương pháp dạy học cũ thì có lẽ lúc này học sinh đã bị bỏ rơi. Đây là điều tôi học được khi dạy học theo phương pháp dạy học mới.

Cần cho các em tự do trao đổi để đưa ra dự đoán ban đầu. Các em đưa ra rất nhiều dự đoán nhưng những dự đoán này hầu như không giống với hiện tượng thí nghiệm xảy ra. Tôi cảm thấy rất tâm đắc vì đây là một điều rất hay khi sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột. Hiểu biết ban đầu của các em về một sự vật, hiện tượng có thể đúng có thể sai rất phong phú và đa dạng.

Phải thực sự làm cho “Dạy học là một nghệ thuật, người giáo viên là một người nghệ sĩ” không thể dạy học sinh theo thiết kế giáo án theo đường thẳng mà phải linh hoạt dạy theo thực tế học sinh. Hơn nữa khi dạy 1 tiết theo phương pháp “bàn tay nặn bột” thì trước khi lên lớp giáo viên phải tiến hành làm thí nghiệm trước để xem kết quả thí nghiệm có xảy ra không? Nếu thí nghiệm không thành công thì tiết dạy có hay đến mấy các em cũng không chiếm lĩnh được tri thức thật sự. Đồng thời giáo viên phải luôn trang bị cho mình một vốn kiến thức chắc chắn mới có thể giải quyết các tình huống nảy sinh trong tiết học vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu bài trước khi dạy.

Dạy học theo hướng nghiên cứu bài học và sử dụng các phương pháp “ Bàn tay nặn bột”, giúp giáo viên học hỏi được rất nhiều. Mình tự học chính mình qua những tiết trực tiếp giảng dạy. Tự mình rút ra được những bài học kinh nghiệm cho bản thân, qua sự quan sát việc học của học sinh. Đồng thời học tập từ đồng nghiệp qua việc chia sẻ rút kinh nghiệm sau tiết học. Khi dạy học theo hướng nghiên cứu bài học tôi cảm thấy mình đã trưởng thành hơn trong việc quan sát học sinh về cử chỉ, thái độ, nét mặt đồng thời cũng hiểu các em hơn trong sự tham gia của các em với bài học, để từ đó không còn bỏ rơi học sinh như trong phương pháp dạy học cũ nữa. Đúng như câu nói của đồng chí Yến “coi học sinh như con” có làm được như vậy thì giáo viên mới biết các em đang gặp khó khăn gì, các em cần gì, muốn gì và các em có hứng thú với tiết học của mình hay không? Để từ đó người giáo viên mới giúp HS tìm tì khám phá tri thức.

Muốn có những tiết dạy thành công thì bản thân cần phải làm tốt công tác chuẩn bị đồ dùng dạy học. Nếu như những bài thực hành thí nghiệm thì phải tiến hành làm thí nghiệm trước để dự kiến các tình huống có thể xảy ra trong bài học. Bản thân phải chủ động nghiên cứu bài dạy trước khi lên lớp. Trong quá trình nghiên cứu bài phải đưa ra được các hình thức tổ chức phù hợp với đối tượng học sinh của mình. Nếu gặp khó khăn thì mạnh dạn trao đổi với ban giám hiệu và tổ chuyên môn để cùng tìm phương án giải quyết. Phải luôn coi “học sinh như con” để từ đó hiểu được học sinh và giúp các em học “sâu” trong tiết học. Mặt khác khi dạy phải đặt mình như người bạn đồng hành cùng các em trong quá trình học.

Trên đây là một số cảm nhận, suy nghĩ của riêng cá nhân tôi khi vận dụng phương pháp BTNB vào giảng dạy, cái mới ra đời thì tất nhiên gặp phải rất nhiều khó khăn và thách thức, rất mong các bạn đồng nghiệp cùng chia sẻ, góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong tình hình mới. Và để làm được điều này, không chỉ là những GV như chúng tôi, mà chúng tôi mong được sự hỗ trợ từ các cấp, các ngành, các bậc phụ huynh để chất lượng giáo dục có kết quả tốt đẹp.

Phan Sỹ Việt – TTCM- khối 4+5

Bài viết liên quan