Wednesday, 28/10/2020 - 10:20|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Yên Phong

Ổn định chất lượng đại trà, tạo nền tảng để nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi

Năm học 2017-2018: THCS Yên Phong là 01 trong 02 trường thi đủ 10 môn HSG lớp 9 năm học (cùng với THCS Yên Thái). Sau 10 năm, trường mới có HS thi HSG môn Toán. Dự thi cấp huyện 33 em, 16 em đoạt giải (tỉ lệ 48,5%), trong đó giải chính thức 12 (tỉ lệ 75,0%); So với năm trước tăng 06 giải; giải chính thức tăng 15%.

Tính từ năm học 2012-2013 đến nay: Trường đã có 500 Hs dự thi HSG Huyện, đoạt 192 giải, tỉ lệ đoạt giải 38,4%; Với 09 giải Nhất, 27 giải Nhì, 64 giải Ba và 92 giải KK; Số giải chính thức 100/192 (tỉ lệ 52,1%).

Đoạt giải các cuộc thi cấp tỉnh:

Thi HSG các môn văn hóa 08 giải (01 Nhì, 06 giải Ba và 01 KK);

Thi trên mạng internet: 07 giải (03 giải Nhì, 01 giải Ba và 04 KK);

Thi Vận dụng kiến thức liên môn: 02 giải Ba;

Thi TDTT đoạt 08 Huy chương (01 HCV chạy 1500m; 04 HCB, 02 HCĐ môn võ karate; 01 HCĐ môn bơi)

Thi Quốc gia: 01 giải Ba cuộc thi VDKTLM giải quyết các tình huống thực tiễn cho HS trung học và 01 HCĐ môn Vật lý internet.

1. Điều kiện thực hiện nhiệm vụ.

Quy mô lớp, học sinh đang ở giai đoạn ổn định (trên 400 Hs, 13 lớp), học sinh đông thứ tư trong huyên (Sau Yên Nhân, Yên Thịnh, Yên Đồng), là điều kiện thuận lợi để chọn lựa đối tượng bồi dưỡng HSG. Nề nếp, kỷ cương ổn định và đang có tiến bộ rõ nét. Trường đủ giáo viên, hợp lý về cơ cấu bộ môn, tỉ lệ đạt chuẩn cao: Thạc sĩ 01 (3,5%), Đại học 27 (93,0%), Cao đẳng 01 (3,5%); Chất lượng đội ngũ tốt, trong 29 giáo viên, có 20 người đạt GVG cấp huyện (tỉ lệ 75,9%), 05 người đạt GVG cấp tỉnh (17,3%), đội ngũ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ hiện tại; CSVC đáp ứng nhu cầu tổ chức các hoạt động giáo dục.

Tuy vậy, chất lượng văn hóa đại trà còn thấp, phát triển chậm; chất lượng bồi dưỡng HSG chưa vững chắc, thiếu tính ổn định. Trong số học sinh được chọn bồi dưỡng vẫn còn một số em chưa chịu khó, chưa có ý chí vươn lên. Tuy được công nhận lại đạt CQG nhưng CSVC, các điều kiện mới mới chỉ đáp ứng một phần cho dạy và học. Việc đầu tư về CSVC, thiết bị, đồ dùng dạy học còn hạn chế do nguồn kinh phí còn quá ít.

2. Những biện pháp nâng chất lượng       

* Về học sinh.

Đối với khối 6,7, số môn thi ít thì chọn nhiều học sinh. Hết năm lớp 6 sẽ phân học sinh theo khuynh hướng môn học, theo năng lực, theo sở trường của các em. Trường hợp học sinh chưa nhận rõ năng lực hoặc sở trường môn học của mình, các em chọn môn học theo cảm tính, theo ý thích thì thầy cô tư vấn. Hết lớp 7 lại tiếp tục phân loại học sinh theo môn học, vừa để đáp ứng nhu cầu của học sinh, vừa đảm bảo yêu cầu số lượng học sinh dự thi theo quy định môn học. Cũng có thể chọn học sinh thiên về khả năng của trẻ, thầy cô không nên áp đặt các em (vì thành tích hay vì tự ái môn học mình dạy học sinh không thích học những cứ bắt ép học sinh).

Với học sinh lớp 8, căn cứ vào năng lực thực tế của trẻ, nhà trường phải có ý định phân loại học sinh ngay từ đầu năm học, làm công tác tư tưởng để các em yên tâm học. Sau kết quả dự thi cấp huyện, sẽ có điều chỉnh. Đối với học sinh lớp 9, giáo viên tính đến khả năng học sinh nếu không được chọn vào các đội tuyển HSG huyện đợt I sẽ được bổ sung vào học các môn thi đợt II. Khả năng này có một khó khăn lớn khó khắc phục: Thời gian vật chất còn ít, mặt khác, các em chưa đủ năng lực tiếp thu và tự học để theo kịp chương trình. Và đây cũng là nội dung Phòng GD&ĐT cần tính toán sao cho phần lợi thế cao hơn để các em chọn vào các môn Sinh, Sử, Địa dự thi tỉnh có kết quả cao nhất.

* Về phân công chuyên môn để có Gv dạy bồi dưỡng HSG.

Trên cơ sở đội ngũ hiện có, căn cứ năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm để phân công chuyên môn từ đầu năm học. Từ đó, phân công cụ thể cho giáo viên đảm nhiệm việc bồi dưỡng HSG các khối lớp. Giáo viên dạy cùng khối thống nhất việc chọn lựa học sinh theo khả năng của các em; nhóm môn của khối thống nhất nội dung chương trình, thời gian (số buổi dạy) cần thiết cho từng môn.

Giáo viên dạy bồi dưỡng HSG xây dựng kế hoạch, nội dung, thời gian và số lượng học sinh bồi dưỡng, kể cả việc đăng ký chỉ tiêu giải cấp huyện (với tất cả các môn), giải cấp tỉnh (các môn lớp 9) ngay từ đầu năm học. Phần nội dung kế hoạch bồi dưỡng các môn có dự tính thêm nội dung, thời gian bổ sung nếu thấy cần thiết. Trên cơ sở kế hoạch cá nhân, nhà trường ấn định thời gian bắt đầu bồi dưỡng. Việc dạy bồi dưỡng thực hiện vào các buổi chiều, xếp xen lịch dạy học thêm và không để học sinh mất quyền lợi về học thêm.

Trước hết, thực hiện nghiêm túc chương trình đại trà, tập trung vào việc bồi dưỡng học sinh giỏi các môn văn hóa và các nội dung thi phong trào. GV phải định được nội dung,  số buổi dạy phù hợp với thời gian tổ chức thi cấp huyện để đảm bảo yêu cầu kiến thức cho học sinh dự thi. Tổ chức dạy tin học cho khối 6,7 và khối 8,9 mỗi khối 01 lớp để có nguồn học sinh dự thi HSG môn tin học (là môn thi khuyến khích).

Sau khi duyệt kế hoạch, nhà trường đã nắm được danh sách học sinh tham dự bồi dưỡng các môn và chốt chỉ tiêu đạt giải HSG các cấp để đưa vào Kế hoạch triển khai nhiệm vụ năm học hoặc điều chỉnh chỉ tiêu cho phù hợp. Nhà trường phân công các giáo viên không dạy học sinh giỏi, phải đảm nhiệm các nội dung thi khác để đảm bảo mặt bang lao động.

* Về kinh phí cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.

Các cụ đã dạy “Có thực mới vực được đạo”. Để có kết quả về HSG, ngoài việc giao trách nhiệm, vừa dựa trên mặt bằng phân công lao động, lãnh đạo nhà trường phải thật sự quan tâm đến việc có kinh phí để hỗ trợ người dạy, điều mà đáng lẽ ra phải trả công thích đáng cho họ. Ai đã từng dạy bồi dưỡng HSG mới biết cái nhọc nhằn, khó khăn như thế nào để có học sinh dự thi và đoạt giải. Để có 1 tiết dạy, thầy cô phải đầu tư thời gian, công sức và trí tuệ, điều mà ai cũng biết, mặc dù giáo viên chưa đòi hỏi về thù lao giảng dạy. Thực ra, bấy lâu nay, các thầy cô ở Yên Phong và các trường  vẫn nhiệt tình giảng dạy. Họ lấy kết quả học sinh giỏi hàng năm làm niềm vui. Nói thật, dạy thêm hiện nay, lao động không vất vả bằng dạy bồi dưỡng HSG, nhưng được trả công cao hơn dạy bồi dưỡng HSG rất nhiều. Vì bồi dưỡng HSG không có nguồn thu.

Nội dung chi cho bồi dưỡng HSG gồm: Hỗ trợ GV dạy bồi dưỡng học sinh giỏi (mỗi buổi 100.000,đ); Hỗ trợ học sinh ngày đi dự các cuộc thi cấp huyện; Thưởng cho học sinh đạt giải cấp huyện, cấp tỉnh và thưởng cho giáo viên có HS đạt giải cấp huyện, cấp tỉnh.

Kinh phí chi cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một bài toán khó có lời giải phù hợp. Nguồn ngân sách hàng năm rất eo hẹp, chủ yếu chi cho lương, các loại đóng góp và phụ cấp cho cán bộ, viên chức; phần chi thường xuyên tại trường có nhiều nội dung cần phải chi, nên không thể có nguồn chi bồi dưỡng HSG. Năm cao nhất, chúng tôi dành tới 10 – 12 % trong kinh phí chi thường xuyên.

* Một số bất cập vẫn hiện hữu:

Bản thân học sinh đối tượng bồi dưỡng vẫn chưa chịu khó học. Số học sinh có ý chí vươn lên, say sưa với việc học chưa nhiều. Một số môn trong nhiều năm, trường không có HS dự thi hoặcchỉ có một em. Bên cạnh đó, đội ngũ dạy học sinh giỏi chưa đồng đều, người dạy vẫn còn thiếu say mê và thiếu lửa.

 

3. Một vài điều kinh nghiệm.

Trước hết, xây dựng và duy trì tốt kỷ cương, nền nếp làm việc của cán bộ, viên chức, chú trọng nề nếp dạy và học của thầy và trò trong suốt năm học. Công tác bồi dưỡng HSG là nội dung khó, không thể ăn sổi ở thì, mà phải có kế hoạch và kế hoạch lâu dài, ít nhất là 5 năm. Hiệu trưởng cũng phải “say”, phải có “cách làm riêng” của mình; và phải biết chia sẻ với đội ngũ. Phải tổ chức dạy tốt các giờ chính khóa (Dạy đủ, dạy đúng, dạy có chất lượng từng giờ một, dạy với tinh thần trách nhiệm cao nhất) để đảm bảo chất lượng đại trà. Chất lượng đại trà không tốt thì bồi dưỡng HSG khó có kết quả; Sau đó là nâng chất lượng dạy thêm học thêm. Phải tổ chức dạy nghiêm túc như dạy chính khóa. Nói tóm lại, việc dạy của thầy phải tốt hơn lên.

Thứ hai, thầy cô phải làm sao tạo được sự chịu khó, ham học của học sinh. Từ  giáo dục ý thức học tập, ý thức rèn luyện các hành vi đạo đức của người học sinh, khuyến khích HS chăm học hơn, ngoan hơn. Chỉ có thầy cô làm việc này rốt ráo hơn, nghiêm túc hơn thì mới có biến chuyển. Còn CMHS lâu nay vẫn thế: ít để ý, thiếu quan tâm với việc học của con, mặt xã hội cũng có những tiêu cực ảnh hưởng đến nhà trường.

Thứ ba, chọn lựa đội ngũ dạy bồi dưỡng học sinh giỏi theo hướng chuyên sâu. Có nghĩa là, mỗi giáo viên chuyên tâm vào một môn và phụ trách các nội dung thi liền kề (thi HSG văn hóa môn Toán và thi giải toán trên mạng internet bằng tiếng Việt, tiến tới giải toán bằng tiếng Anh; tiếng Anh văn hóa và tiếng Anh trên mạng internet; …. )

Thứ tư, đảm bảo sự kế tiếp có chọn lọc theo khả năng của học sinh. Có thể cho học sinh theo học bồi dưỡng các môn ở hai, ba hoặc 4 khối lớp liên tục. Cũng có học sinh đến năm lớp 8 hoặc lớp 9 phải chuyển sang môn có ưu thế hơn. Vấn đề là, làm thế nào để bù chương trình, kiến thức cho các em chuyển môn học bồi dưỡng để đảm bảo các em đồng đều về chương trình. Như thế mới chọn được học sinh dự thi học sinh giỏi cấp huyện, mới có khả năng dự thi cấp tỉnh. Trong trường hợp này, thực thất là bỏ môn dự thi của trường theo quy định để cho học sinh dự thi môn có ưu thế ưu thế. Bỏ tức là chọn.

Thứ năm, phải có kinh phí động viên, hỗ trợ người dạy. Công người dạy thêm cũng được trả từ 200 đến 250 ngàn đồng/buổi, trong khí đó, dạy bồi dưỡng mới được hỗ trợ cao nhất 100 ngàn đồng/buổi.

Thứ sáu, để có kết quả HSG, ngoài năng lực của HS, người thầy cần phải:

- Nắm vững chương trình môn học toàn cấp, chuyên sâu chương trình môn dạy của khối lớp được phân công.

- Biết chọn lựa nội dung kiến thức, phương pháp và kỹ năng dạy cho học sinh giỏi. Đặc biệt nắm được yêu cầu, mức độ, kỹ năng cần và đủ cho học sinh.

- Tài liệu bồi dưỡng phải đầy đủ, bản thân người dạy phải tích cực sưu tầm, mua sắm làm giàu thêm nguồn tài nguyên cho bản thân.

- Người thầy ngoài kiến thức, phương pháp dạy học còn phải biết động viên học sinh học tập (Tạo được động lực, hứng thú ham học hỏi, biết tìm tòi tự giác và tự tin cho các em). Thầy cô có say mê thì mới thổi cái say mê cho trò. Mặt khác, thầy cũng phải biết học từ học trò.

Hiện tại, vẫn còn giáo viên chưa nắm vững nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi, nên chưa chọn lọc được nội dung bồi dưỡng, còn lúng túng trong phương pháp bồi dưỡng. Số giáo viên say mê với việc bồi dưỡng chưa nhiều (HS tập huấn chuẩn bị thi HSG cấp tỉnh, GV ở trường không hề biết nội dung các em học là gì). Trước đây, khi còn trường Năng khiếu, khi học sinh tập huấn dự thi quốc gia tại Ninh Bình, giáo viên Yên Mô mượn vở ghi của học sinh, phô tô để xem họ dạy gì cho các em; để rồi bổ sung nội dung và biết thêm kỹ năng rèn cho học sinh.

Thứ bảy: Khen thưởng, động viên kịp thời thầy cô và học sinh. Thưởng chỉ là biện pháp động viên. Hiện nay, phần thưởng cho học sinh và giáo viên dạy còn quá thấp, mặc dù đã đưa vào định mức chi tiêu nội bộ hàng năm. Phần xã hôi hóa cũng chỉ động viên ở mức khiêm tốn sau khi đoạt giải nên ít có tác dụng thúc đẩy.

4. Một số đề xuất về công tác bồi dưỡng HSG.

Một là, tiếp tục phát huy những nội dung, những mặt đã làm tốt trong mấy năm vừa qua (về chủ trương, quản lý và điều hành, tổ chức dạy và học, tổ chức thi, đánh giá, xếp loại,…). Phải xác định rõ những môn, những nội dung mà trường có lợi thế và có khả năng cả về phía thầy cô và về phía học sinh. Tập trung vào môn, khối lớp giáo viên có khả năng bồi dưỡng và đạt kết quả cao. Ví dụ: Nếu năm tới, chuyển số HS học Toán sang bồi dưỡng Vật lý thì trong hè hoặc từ tháng 8 hàng năm phải bổ sung kiến thức Vật lý 8 để các em có thể tiếp thu kiến thức Vật lý 9, như vậy mới có HS đủ điều kiện dự thi.

Hai là, làm chuyển biến nhận thức và hành động của giáo viên về yêu cầu công tác bồi dưỡng HSG. Không phải là vấn đề “thi thố” lấy giải; Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ của giáo viên, là một nội dung nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục. Thầy cô có hiểu đầy đủ về yêu cầu, nắm vững nội dung, phương pháp và kỹ năng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi thì mới có kết quả cao hơn.

Ba là, phải có thêm nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Ngoài nâng mức thù lao (vẫn cha thể gọi là trả công) cho người dạy, đồng thời tăng cường phần động viên thầy trò cả về tinh thần và vật chất.

Bốn là, trên cơ sở kết quả thi học sinh giỏi các môn cấp huyện năm học trước, PGD chỉ đạo các trường tổ chức rút kinh nghiệm đối với giáo viên. Cần chỉ rõ những những yếu kém, hạn chế của đơn vị (việc phân công giáo viên, xây dựng khung chương trình, bố trí thời lượng bồi dưỡng, công tác quản lí, động viên khuyến khích của ban giám hiệu; tinh thần ý thức trách nhiệm của giáo viên; thái độ học tập, kĩ năng làm bài của học sinh; sự quan tâm của phụ huynh...).

5. Kiến nghị với phòng GD&ĐT.

Nên tổ chức chuyên đề về bồi dưỡng HSG theo khối lớp cho GV các trường trong huyện (Chọn những thầy cô giáo có năng lực, kinh nghiệm và kết quả bồi dưỡng HSG tốt nhất ở các trường làm báo cáo viên). Hoặc tổ chức hội thảo chuyên môn, mời các chuyên gia nói chuyện hoặc giảng bài cho giáo viên về bồi dưỡng HSG.

Kế hoạch chỉ đạo công tác bồi dưỡng HSG phải rõ ràng, cụ thể từ đầu năm học về thời gian, thời điểm thi học sinh giỏi. Và nếu có thể là cả cấu trúc đề thi, từ đó tạo điều kiện cho giáo viên bồi dưỡng có trọng điểm; không thể để tình trạng khung chương trình bồi dưỡng chỉ có dăm ba dòng như mấy năm vừa qua.  

Kinh phí cho công tác bồi dưỡng HSG còn hạn chế; dạy bồi dưỡng với số ít học sinh thì không thể thu tiền của trẻ để trả công thầy cô được. Vả lại, đang phải nịnh để nó học còn chưa có trò, thu tiền nữa thì nó bỏ học - hỏng tất cả. Chỉ trông vào ngân sách thì không được. Vì vậy, nên tạo cơ chế như thế nào để có  phần kinh phí trong ngân sách, có kinh phí từ việc xã hội hóa nguồn thu cho công tác này.

Bồi dưỡng HSG là một nội dung khó trong trường học. Với quy mô một trường THCS, thực hiện quy trình “Phát hiện, Tuyển chọn và Bồi dưỡng” đâu có dễ dàng. Nếu mỗi trường không tìm ra được biện pháp riêng khả dĩ chấp nhận được thì kết quả của công tác bồi dưỡng không thể nâng lên được.

Rất mong các đồng chí chia sẻ và không sợ bất đồng ý kiến. Vấn đề là đưa ra được biện pháp phù hợp để công tác bồi dưỡng năm học này và các năm tiếp theo, các nhà trường có kết quả tiến bộ hơn.

                                                                      Ninh Văn Vàng - Hiệu trưởng

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 3
Hôm qua : 8
Tháng 10 : 207
Năm 2020 : 2.633