Wednesday, 28/10/2020 - 20:28|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Yên Phong

Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi năm học 2015-2016

I. Phần thứ nhất: Những vấn đề nêu trong Phương hướng trong kế hoạch triển khai nhiệm vụ năm học.

1. Những thuận lợi.

Trong nhiều năm qua, nhà trường luôn được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo ngành GD&ĐT huyện; sự quan tâm, động viên của cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể, sự ủng hộ của nhân dân và sự đồng tình của cha mẹ học sinh.

Quy mô trường, lớp đang ở giai đoạn ổn định với trên 400 học sinh với 13 lớp, bình quân xấp xỉ 32 Hs/lớp. Nề nếp, kỷ cương đang có tiến bộ rõ nét. Trường đủ giáo viên, khá hợp lý về cơ cấu, chất lượng đào tạo đạt chuẩn cao, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ hiện tại; Yên Phong là đơn vị ở trong nhóm trường khá trong về cơ sở vất chất.

 2. Một số khó khăn.

Đội ngũ giáo viên có chất lượng đào tạo tốt nhưng chưa đồng đều, chưa tạo ra được sức bật rõ rệt. Chất lượng văn hóa đại trà nhìn chung còn thấp, phát triển chậm; chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi chưa vững chắc, thiếu tính ổn định. Trong số học sinh được chọn bồi dưỡng vẫn còn một số em chưa chịu khó, chưa có ý chí vươn lên.

Tuy được công nhận lại đạt chuẩn quốc gia nhưng cơ sở vật chất, các điều kiện mới mới chỉ đáp ứng một phần cho dạy và học trước mắt. Việc đầu tư về CSVC, trang thiết bị, đồ dùng dạy học còn hạn chế do nguồn kinh phí còn quá ít.

3. Thực trạng của nhà trường đầu năm học 2015-2016:

a) Về học sinh. Yên Phong là đơn vị có sĩ số thứ tư trong huyên (Sau Yên Nhân 619; Yên Thịnh 458; Yên Đồng 514), cao hơn 25% bình quân sĩ số các trường THCS, là điều kiện thuận lợi, là cơ sở để chọn lựa đối tượng bồi dưỡng học sinh giỏi.

b) Đội ngũ: Với 33 biên chế (22 nữ), 24 đảng viên (72,7%); Giáo viên đủ về số lượng, khá hợp lý về cơ cấu bộ môn. Tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn 27/27 (100%), trong đó trên chuẩn 24/27 (88,9,3%). Trong 27 giáo viên, có 20 người đạt GVG cấp huyện (Tỉ lệ 70,1%), 05 người đạt GVG cấp tỉnh (18,5%); Tỉ lệ giáo viên các môn văn hóa cơ bản đủ về số lượng. Nhìn chung, đội ngũ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ hiện tại.

c) Cơ sở vật chất: Nhà trường cơ bản đạt yêu cầu về CSVC, đảm bảo điều kiện phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ. Mặc dù là đơn vị ở trong nhóm trường khá về cơ sở vất chất của cấp học trong huyện, nhưng vẫn cần có sự đầu tư lớn hơn nữa.

4.  Phư­­ơng h­­ướng, chỉ tiêu.

Tranh thủ sự lãnh đạo của ngành, của cấp ủy, chính quyền địa phương, bám sát các nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2015-2016, triển khai các nội dung công tác phù hợp với tình hình thực tiễn của nhà trường và địa phương. Tiếp tục xây dựng kỷ cương, nền nếp làm việc của cán bộ, viên chức nhằm tạo sự chuyển biến tích cực trong năm học và thể hiện được sự đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; làm cho nhà trường có chuyển biến một bước về chất lượng giáo dục toàn diện;

Cố gắng đảm bảo đủ số học sinh dự thi học sinh giỏi các môn văn hóa theo quy định và dự thi các nội dung phong trào. Khối 9 có 5- 6 học sinh đạt giải huyện; 01 đến 02 học sinh đạt giải tỉnh; Khối 6,7,8 có 30 - 35 học sinh đạt giải cấp huyện. Như vậy, chỉ tiêu được công nhận HSG huyện trong năm học khoảng 40 giải.

II. Phần thứ hai. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Chỉ đạo chung. Trên cơ sở thực hiện tốt chương trình đại trà, tập trung vào việc bồi dưỡng học sinh giỏi các môn văn hóa và các nội dung thi phong trào hàng năm. Các môn thống nhất về kế hoạch, nội dung, thời gian và đối tượng dạy bồi dưỡng. Nâng số buổi dạy phù hợp với thời gian tổ chức thi cấp huyện để đảm bảo yêu cầu kiến thức cho học sinh dự thi. Tổ chức dạy tin học cho khối 6,7 và lớp 8A để có học sinh dự thi HSG môn tin học (môn khuyến khích) năm học 2016-2017;

2. Về công tác chuyên môn.

Nhà trường tính toán thực tế về đội ngũ hiện có về năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm để phân công chuyên môn (phân công lao động) từ đầu năm học. Từ đó, phân công cụ thể cho các giáo viên đảm nhiệm việc bồi dưỡng học sinh các môn thi. Các giáo viên dạy cùng khối thống nhất việc chọn lựa học sinh theo khả năng của các em; nhóm môn của khối thống nhất nội dung chương trình, thời gian (số buổi dạy) cần thiết cho từng môn. Đồng thời, giáo viên đăng ký chỉ tiêu về số lượng học sinh bồi dưỡng (Có tên cụ thể) và dự kiến số giải đạt được. Giáo viên lập kế hoạch bồi dưỡng của môn dạy được phân công. Giám hiệu duyệt kế hoạch cho giáo viên thực hiện. Phần nội dung kế hoạch bồi dưỡng các môn có dự tính thêm nội dung, thời gian bổ sung nếu thấy cần thiết. Trên cơ sở kế hoạch cá nhân, nhà trường ấn định thời gian bắt đầu bồi dưỡng. Việc dạy bồi dưỡng thực hiện vào các buổi chiều, xếp xen lịch dạy học thêm và không để học sinh mất quyền lợi về học thêm.

Đối với học sinh lớp 9, giáo viên tính đến khả năng học sinh nếu không được chọn vào các đội tuyển HSG huyện đợt I sẽ được bổ sung vào học các môn thi đợt II. Khả năng này có một khó khăn lớn khó khắc phục: Thời gian vật chất còn ít, mặt khác, các em chưa đủ năng lực tiếp thu và tự học để theo kịp chương trình. Và đây cũng là nội dung Phòng Giáo dục & Đào tạo cần tính toán sao cho phần lợi thế cao hơn để các em chọn vào các môn Sinh, Sử, Địa dự thi tỉnh có kết quả cao nhất.

Sau khi duyệt kế hoạch, nhà trường đã nắm được danh sách học sinh tham dự bồi dưỡng các môn và chốt chỉ tiêu đạt giải HSG các cấp để đưa vào Kế hoạch triển khai nhiệm vụ năm học hoặc điều chỉnh chỉ tiêu cho phù hợp. Năm học 2015-2016, trường THCS Yên Phong có các nội dung:

Bồi dưỡng và dự thi 27/29 nội dung thi HSG các các môn văn hóa và các nội dung thi trên mạng internet

Về các nội dung thi phong trào: Cuộc thi “Vận dụng kiến thức liên môn …, Nghiên cứu khoa học … đối với học sinh; Dạy học theo chủ đề tích hợp đối với giáo viên”.

Đối với nội dung này, tinh thần chỉ đạo chung là tham gia đầy đủ các cuộc thi và với ý thức cao nhất, phấn đấu có nhiều đề tài tham dự. Tổ xã hội chịu trách nhiệm cuộc thi “Dạy học theo chủ đề tích hợp đối với giáo viên”. Tổ tự nhiệm chịu trách nhiệm 02 cuộc thi “Nghiên cứu khoa học … đối với học sinh” và Vận dụng kiến thức liên môn …”. Bởi lẽ, hai năm qua nhà trường đã có sản phẩm đạt giải Quốc gia, một lợi thế của trường THCS Yên Phong.

Năm học 2013-2014, có 02 Học sinh Đồng giải Ba cấp tỉnh và giải Khuyến khích Quốc gia cuộc thi “Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống cho học sinh trung học” do Đ/c Trần Thị Nhàn hướng dẫn và Yên Phong là trường duy nhất trong huyện có đề tài dự cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn lớp 9 toàn quốc và đạt giải Khuyến khích Quốc gia.  Năm học 2014-2015, Đ/c Phạm Thị Sáu với đề tài “Sơ lược mỹ thuật thời Lý”, đoạt giải Nhì cấp Tỉnh và giải Khuyến khích quốc gia duy nhất của huyện Yên Mô trong cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợp đối với giáo viên.

Từ 10/2015, trường giao cho tổ chuyên môn chịu trách nhiệm các cuộc thi:

1- Cuộc thi Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tế đối với học sinh trung học. Phấn đấu có giải cấp tỉnh. Có 03 nhóm học sinh với các đề tài:

- Môn Hóa 9: “Vì sao phèn chua lại làm sạch nước”, nhóm 03 học sinh.

- Môn Công nghệ 9: “Một số phương pháp làm chín quả tự nhiên”, 03 học sinh.

- Môn Công nghệ 6: “Vì sao đường lại làm dưa muối mau chua. 03 học sinh.

2- Cuộc thi “Nghiên cứu khoa học … đối với học sinh”. Đây là nội dung tham dự lần đầu. Thầy và trò làm quen để chuẩn bị cho các năm tiếp theo.

3- Cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợp đối với giáo viên. Phấn đấu có ít nhất 02 giải cấp tỉnh và có sản phẩm dự thi quốc gia. Có 04 đề tài đăng ký theo nhóm giáo viên: 

- “Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa” - Môn Địa lý lớp 7; Nhóm GV Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Thanh Hương.

- “Bảo tồn và phát triển văn hóa hát xẩm”, môn Âm nhạc.

- “Yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên”, môn Giáo dục công dân.

- Unit 6: “Environment” – English 9. môn tiếng Anh 9.

Ngay từ đầu năm, một số nội dung thi được thống nhất trong tổ chuyên môn và lãnh đạo trường: môn Toán lớp 9 và Hóa học lớp 9, học sinh không đủ khả năng theo học nên không bồi dưỡng 02 môn này. Nội dung Nghiên cứu khoa học đối với học sinh do giáo viên chuẩn bị tham dự Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện, không có thời gian hướng dẫn học sinh nên phải tạm dừng.

III-Kết quả các cuộc thi:

1. Thi HSG các môn văn hóa và thi trên mạng internet 2015-2016.

Nội dung thi

Dự kiến chỉ tiêu đạt giải

Kết quả thi Huyện

TS

Nhất

Nhì

Ba

KK

TS

Nhất

Nhì

Ba

KK

Thi Văn hóa

28

0

2

7

19

25

1

3

8

13

Trên internet

11

0

0

2

9

16

0

2

8

6

Cộng

39

0

2

9

28

41

1

5

16

19

2. Các cuộc thi phong trào.

2.1- Cuộc thi Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tế đối với học sinh trung học. Có 03 đề tài, 01 đề tài được giải. “Một số phương pháp làm chín quả tự nhiên”, môn Công nghệ lớp 9, gồm 03 học sinh, Giải Ba cấp Tỉnh - Đ/c Nguyễn Thị Thảo hướng dẫn .

2.2- Cuộc thi “Dạy học theo chủ đề tích hợp…. Có 04 đề tài dự thi, 03 đề tài đoạt giải cấp Tỉnh; 02 đề tài được chọn dự thi quốc gia. 

- Unit 6: “Environment” – English 9. Nhóm GV Lê Thị Thanh Tần, Nguyễn Quang Tiến. Giải Ba cấp Tỉnh

- “Bảo tồn và phát triển văn hóa hát xẩm” môn Âm nhạc; Nhóm GV: Mai Thị Vân và Phạm Thị Sáu. Giải Nhì cấp Tỉnh. Dự thi Quốc gia.

- “Yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên”, môn GDCD, nhóm GV: Lê Thị Thu Hằng, Vũ Thị Thu Huyền. Giải Nhì cấp Tỉnh. Dự thi Quốc gia

2.3- Hội khỏe Phù Đổng:

- Cấp huyện: Tham gia nhiều nội dung, đạt kết quả khá.

- Cấp Tỉnh: Đoạt 01 HC Vàng 1.500m, 01 HC Đồng (đồng hạng môn bóng rổ) và 01 HC Đồng môn bơi.

3. Các nội dung, môn thi cấp Tỉnh:

- Thi văn hóa: 01 giải Nhì, 01 giải Khuyến khích môn Vật lý 9.

- Cuộc thi “Vận dụng kiến thức liên môn…”  01 giải Ba.

- Thi giải toán bằng tiếng Việt trên internet cấp tỉnh lớp 7: 02 giải Khuyến khích

Tổng hợp giải cấp Tỉnh

Tổng số giải

Chia ra

Văn hóa

Liên môn

VyOlympic 7

HKPĐ

TS

Nhất

Nhì

Ba

KK

Nhì

KK

Ba

KK

HCV

HCĐ

08

1

1

3

3

01

01

01

02

01

02

4. Kết quả bồi dưỡng HSG 4 năm qua.

a) Thi cấp huyện

Năm học

Các nội dung dự thi

Đạt giải cấp huyện

Lớp

 9

Tiếng

Anh mạng

Toán
mạng

Toán

TT 8

HSG 6,7,8

Cộng

TS giải

Trong đó

SL

Tỉ lệ

Nhất

Nhì

Ba

KK

Tỉ lệ giải chính thức

2012-2013

21

0

8

3

34

66

15

22,7

0

2

2

11

26,7

2013-2014

22

2

9

3

34

70

22

31,4

0

2

6

14

36,4

2014-2015

18

9

11

0

47

85

32

37,6

2

2

11

17

46,9

2015-2016

18

18

15

3

49

103

41

39,8

1

5

16

19

53,7

b) Thi cấp Tỉnh

Năm học

Văn hóa

Thi trên mạng

Liên môn

TDTT

Cộng

2012-2013

1

0

0

0

1

2013-2014

3

0

1

4

8

2014-2015

0

0

0

0

0

2015-2016

2

2

1

3

8

IV- Kinh phí cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi..

1. Về kinh phí:

Chủ động phần kinh phí chi trong nguồn ngân sách được cấp hàng năm. Tiết kiệm chi ở một số nội dung, chuyển sang hỗ trợ bồi dưỡng học sinh giỏi. Vận động kinh phí ngoài nhà trường để có nguồn thưởng cho thầy và trò.

2. Nội dung chi.

- Hỗ trợ công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, mỗi buổi dạy 100.000,đ.

- Hỗ trợ học sinh ngày đi dự các cuộc thi cấp huyện

- Thưởng cho học sinh đạt giải, giáo viên có HS đạt giải cấp huyện, cấp tỉnh.

+ Thưởng HS đạt giải HSG cấp huyện (Nhất, Nhì, Ba, KK hoặc HC Vàng, Bạc, Đồng cấp  tỉnh) số tiền/giải theo thứ tự:  60.000,đ; 40.000,đ; 30.000,đ và 20.000,đ;

+ Thưởng CB, GV đạt giải HSG cấp huyện (Nhất, Nhì, Ba hoặc HC Vàng, Bạc, Đồng cấp Tỉnh) bằng số tiền/giải theo thứ tự như thưởng học sinh.

+ Thưởng Học sinh đạt điểm cao (Bình quân bài thi từ 8,0 trở lên, không có điểm dưới 6,5) trong các kỳ đợt kiểm tra chất lượng cuối học kỳ. Không quá 15.000,đ/Hs.

Kinh phí chi cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một bài toán khó có lời giải. Nguồn ngân sách hàng năm rất eo hẹp, chủ yếu nguồn chi cho lương, các loại đóng góp và phụ cấp; phần chi thường xuyên tại trường có nhiều nội dung cần phải chi, nên không thể có nguồn chi bồi dưỡng HSG.

Để động viên thầy cô dạy bồi dưỡng, 3 năm trước, nhà trường cố gắng để có kinh phí hỗ trợ cho thầy cô bồi dưỡng HSG (Không dám nói trả công). Đưa phần kinh phí dạy bồi dưỡng HSG và kinh phí làm phần thưởng vào Định mức chi tiêu nội bộ hàng năm (Thực tế lãnh đạo ngành đã phê duyệt vì thấy hợp lý). Từ năm học 2012-2013, trường THCS Yên Phong đã cố gắng rất nhiều, nhưng mức hỗ trợ buổi dạy chưa thể tăng hơn 100.000,đ/buổi. Dạy bồi dưỡng tuy ít học sinh (khoảng 3 đến 7 em/môn) nhưng lao động của thầy sẽ vất vả hơn dạy chính khóa và dạy thêm. Để có 1 tiết dạy, thầy cô phải đầu tư nhiều hơn, điều mà ai cũng biết; mặc dù giáo viên chưa đòi hỏi về thù lao giảng dạy. Thực ra, bấy lâu nay, các thầy cô ở Yên Phong và nhiều trường khác vẫn nhiệt tình giảng dạy. Họ lấy kết quả học sinh giỏi hàng năm làm niềm vui.

Kinh phí trường THCS Yên Phong 03 năm qua:

(ĐVT: Ngàn đồng)

Năm

Kinh phí được giao

Lương, PC lương, các khoản đóng góp,

thanh toán cá nhân

Kinh phí chi khác

Số tiền

(%)

Trong đó chi cho
bồi dưỡng HSG

Số tiền

(%)

Số tiền

(%)

2013

  2.463.219

  2.220.580

90,15

142.639 ([1])

9,85

   14.000

5,8

2014

  2.426.525

  2.319.879

95,60

 106.646

4,40

   19.600

18,4

2015

  2.647.635

  2.511.776

94,87

 135.859

5,13

   22.400

16,5

Cộng

  7.537.379

  7.052.235

93,56

 385.144

6,44

   56.000

11,5

Qua bảng tổng hợp nguồn nguồn ngân sách và học phí trong 3 năm (2013,2014 và 2015), cho thấy: Nhà trường đã có sự tập trung cần thiết nhằm đảm bảo các yêu cầu của nhiệm vụ năm học. Trung bình mỗi năm chi cho bồi dưỡng HSG 11,5% trong số chi thường xuyên; Năm cao nhất 18,4%. Qua đó cho thấy sự khó khăn mà Ban giám hiệu trường Yên Phong băn khoăn là có cơ sở.

Kinh phí chi cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi 03 năm học qua là:

(ĐVT: Ngàn đồng)

Năm học

Các môn Văn hóa

Thi mạng - TDTT

Thưởng

HS đạt giải

Thưởng

GV có HS đạt giải

Tổng

số tiền

Số

buổi

Tiền/

buổi

Số

tiền

Số

buổi

Tiền/

buổi

Số

tiền

Trường

CM

HS

2012-2013

291

85

24.735

66

85

5.580

 

 

1.650

31.96

2013-2014

297

100

29.700

45

100

5.580

810

1.060

1.780

38.93

2014-2015

320

100

32.000

40

100

5.580

 

 

1.620

39.20

Cộng

980

 

86.400

151

 

16.700

810

1.060

5.050

110.95

Kinh phí chi cho bồi dưỡng HSG 03 năm là 110,95 triệu đồng. Từ ngân sách 56,0 triệu đồng, nguồn khác bù vào là 54,9 triệu đồng (bình quân mỗi năm phải bù gần 18,3 triệu đồng)

Năm học 2015-2016

Chi bồi dưỡng HS dự thi: 3.140.000,đ (Thi HSG và trên mạng: 1.380.000,đ; Dự thi HKPĐ: 1.760.000,đ)

Nếu lấy mức chi hỗ trợ buổi dạy và thưởng như năm 2014-2015 thì số tiền cần: 45 triệu đồng (Bao gồm hỗ trợ dạy bồi dưỡng gần 40 triệu đồng. Chi thưởng cho trò và thầy: 5,18 triệu đồng)

Nguồn chi hoạt động thường xuyên năm 2016 (NSNN và học phí) chỉ có:

(ĐVT: đồng)

Nguồn chi hoạt động thường xuyên

Chi bồi dưỡng HSG

NSNN

Học phí

Tổng được chi

Số tiền

Tỉ lệ so với tổng chi TX

47.837.000,

92.332.000,

140.169.000,

45.180.000,

32,23%

Như vậy, chi cho bồi dưỡng HSG sẽ lên 32,23% so với tổng số tiền được chi cho hoạt động thường xuyên. Lo quá, nhu cầu lớn mànguồn hạn chế, biết làm sao đây!?

V- Tồn tại

Bản thân học sinh đối rượng bồi dưỡng vẫn chưa chịu khó học. Số học sinh có ý chí vươn lên, say sưa với việc học chưa nhiều.

Đội ngũ chưa đồng đều về nhiều mặt, còn thiếu say mê và thiếu lửa. Một số môn trong nhiều năm không dự thi hoặc quá ít giải: Toán 9, Toán 8, Toán tuổi thơ 8.

Năm học 2015-2016 có tăng về số giải HSG cấp Huyện, cấp tỉnh nhưng tỉ lệ học sinh khối 6,7,8 đạt giải của Yên Phong còn thấp so với bình quân chung toàn huyện cả về số lượng giải (21,4 giải/trường) và số học sinh đạt giải chính thức. Kết quả xếp loại chung năm học 2015-2016 đứng vị trí thấp (13/17) các trường THCS.

VII. Bài học kinh nghiệm.

Trước hết, phải dạy tốt các giờ chính khóa để đảm bảo chất lượng đại trà (Dạy đủ, dạy đúng, dạy có chất lượng từng giờ một, dạy với tinh thần trách nhiệm cao nhất). Chất lượng đại trà không tốt thì bồi dưỡng HSG khó có kết quả; Sau đó là nâng chất lượng dạy buổi 2. Cũng là dạy có chọn lọc, phù hợp và cũng như dạy chính khóa. Nói tóm lại, việc dạy của thầy phải tốt hơn lên.

Thứ hai, phải làm sao tạo được sự chịu khó, ham học của học sinh. Từ công tác giáo dục ý thức học tập, ý thức rèn luyện các hành vi đạo đức của người học sinh, khuyến khích HS chăm học hơn, ngoan hơn. Chỉ có thầy cô làm việc này rốt ráo hơn, nghiêm túc hơn. Cha mẹ HS lâu nay vẫn thế: không để ý, thiếu quan tâm với việc học của con, mặt xã hội có những tiêu cực ảnh hưởng đến nhà trường.

Thứ ba, chọn lựa đội ngũ dạy bồi dưỡng học sinh giỏi theo hướng chuyên sâu. Có nghĩa là, mỗi giáo viên chuyên tâm vào một môn và phụ trách các nội dung thi liền kề (thi HSG văn hóa môn Toán và thi giải toán trên mạng internet bằng tiếng Việt, tiến tới giải toán bằng tiếng Anh; tiếng Anh văn hóa và tiếng Anh trên mạng internet; …. )

Thứ tư, đảm bảo sự kế tiếp có chọn lọc theo khả năng của học sinh. Có thể cho học sinh theo học bồi dưỡng các môn ở hai, ba hoặc 4 khối lớp liên tục. Cũng có học sinh đến năm lớp 8 hoặc lớp 9 phải chuyển sang môn có ưu thế hơn. Vấn đề là, làm thế nào để bù chương trình, kiến thức cho các em chuyển môn học bồi dưỡng để đảm bảo các em đồng đều vè chương trình. Như thế mới chọn được học sinh dự thi học sinh giỏi cấp huyện, mới có khả năng dự thi cấp tỉnh. Trong trường hợp này, thực thất là bỏ môn dự thi của trường theo quy định để cho học sinh dự thi môn có ưu thế ưu thế. Bỏ tức là chọn.

Thứ năm, phải nâng chất lượng bồi dưỡng HSG bằng biện pháp gì? Bằng biện pháp kinh tế. Dạy đại trà đã có phần dạy thêm. Công người dạy thêm trong mấy năm qua, thấp cũng được trả 160.000,đ, cao cũng được trả trên dưới 200.000,đ/buổi (Có trường thu ở mức cao nhất theo quy định thì trả cao hơn nhiều). Trong khí đó, dạy bồi dưỡng mới được hỗ trợ ban đầu có 85.00,đ/buổi dạy 03 tiết. Sau đó, cố gắng để có mức hỗ trợ 100.00,đ/buổi. Mặt khác, phần thưởng cho học sinh và giáo viên dạy còn quá thấp, mặc dù đã đưa vào định mức chi tiêu nội bộ hàng năm. Với Yên Phong, số học sinh chọn bồi dưỡng các môn đều ít; từ trước đến nay không thu tiền học bồi dưỡng. Vả lại có thu cũng chẳng được bao nhiêu. (Kinh phí hỗ trợ bồi dưỡng HSG quá ít. Phần hỗ trợ gọi là xã hôi hóa cũng chỉ có nguồn thưởng của Hội khuyến học xã mỗi năm một lần mà thôi.

Thứ sáu, để có kết quả bồi dưỡng HSG, ngoài yếu tố năng lực của HS, người thầy cần phải:

- Nắm vững chương trình môn học toàn cấp, chuyên sâu chương trình môn dạy của khối lớp được phân công.

- Biết chọn lựa nội dung kiến thức, phương pháp và kỹ năng dạy cho học sinh giỏi. Đặc biệt nắm được yêu cầu, mức độ, kỹ năng cần và đủ cho học sinh.

- Biết động viên học sinh học tập (Tạo được động lực, hứng thú cho các em);

- Tài liệu bồi dưỡng phải đầy đủ, bản thân người dạy phải tích cực sưu tầm, mua sắm làm giàu thêm nguồn tài nguyên cho bản thân.

- Người thầy ngoài kiến thức, phương pháp dạy học còn phải biết “truyền lửa” cho học trò tạo sự say mê, hứng thú, ham học hỏi, biết tìm tòi tự giác và tự tin. Thầy cô có say mê thì mới thổi cái say mê cho trò. Mặt khác, thầy cũng phải biết học từ học trò.

Hiện tại, vẫn còn giáo viên chưa nắm vững nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi (Còn lơ tơ mơ- Lời GV), nên chưa chọn lọc được nội dung bồi dưỡng, còn lúng túng trong phương pháp bồi dưỡng. Số giáo viên say mê với việc bồi dưỡng chưa nhiều (Học sinh tập huấn chuẩn bị thi HSG cấp tỉnh, GV không hề xem nội dung các em học gì). Trước đây, khi còn trường Năng khiếu, khi học sinh tập huấn dự thi quốc gia tại Ninh Bình, giáo viên Yên Mô còn mượn vở ghi của học sinh để xem họ dạy gì cho các em.

Thứ bảy: Khen thưởng, động viên kịp thời thầy cô và học sinh. Trước khi nghỉ hè tổ chức gặp mặt toàn thể thầy cô giáo, CMHS và HS đạt giải từ cấp huyện trở lên

VI. Phương hướng công tác bồi dưỡng HSG năm học 2016-2017.

Căn cứ kết quả năm học 2015-2016, nhà trường cần tập trung các nội dung:

Trước hết, tiếp tục phát huy những nội dung, những mặt đã làm tốt trong mấy năm vừa qua (về chủ trương, quản lý và điều hành, tổ chức dạy và học,…). Phải xác định rõ những môn, những nội dung mà trường có lợi thế và có khả năng cả về phía thầy cô và về phía học sinh. Tập trung vào môn, khối lớp giáo viên có khả năng bồi dưỡng và đạt kết quả cao. Chuyển hướng kịp thời theo Công văn Số 136/PGDĐT-THCS, ngày 13/5/2016 của Phòng GD&ĐT

Ví dụ: Nếu năm tới, chuyển số HS học Toán sang bồi dưỡng Vật lý thì trong hè hoặc từ tháng 8/2016 phải bổ sung kiến thức Vật lý lớp 8 cho các em có thể học và tiếp thu kiến thức Vật lý 9. Như vậy mới có HS dự thi HSG môn Vật lý 9. vv

Hai là, làm chuyển biến nhận thức và hành động của giáo viên về yêu cầu công tác bồi dưỡng HSG. Không phải là vấn đề “thi thố” lấy giải; Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ của giáo viên, là một nội dung nâng cáo chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục. Thầy cô có hiểu đầy đủ về yêu cầu, nắm vững nội dung, phương pháp và kỹ năng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi thì mới có kết quả cao hơn.

Ba là, phải có thêm nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Trong đó tăng cường phần động viên thầy trò cả về tinh thần và vật chất.

Bốn là, tự thân, mỗi thầy cô giáo cần nỗ lực hơn nữa.

V- Kiến nghị với phòng GD&ĐT.

Nên tổ chức hội thảo hoặc sinh hoạt chuyên đề về bồi dưỡng học sinh giỏi theo khối lớp cho giáo viên các trường trong huyện (Chọn những thầy cô giáo có năng lực, kinh nghiệm và kết quả bồi dưỡng HSG tốt nhất ở các trường làm báo cáo viên). Hoặc nên tổ chức hội thảo chuyên môn, mời các chuyên gia về nói chuyện hoặc giảng bài cho giáo viên về bồi dưỡng học sinh giỏi..

Duy trì việc xây dựng kế hoạch về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi rõ ràng, cụ thể từ đầu năm học về thời gian, thời điểm thi học sinh giỏi. Và nếu có thể là cả cấu trúc đề thi, từ đó tạo điều kiện cho giáo viên bồi dưỡng có trọng điểm.

Kinh phí cho bồi dưỡng học sinh giỏi còn hạn chế. Hiện tại số trường thu qua học sinh để tăng nguồn chi hầu như không có là bao; Chỉ trông vào ngân sách thì không được. Vì vậy, nên tạo cơ chế như thế nào để xã hội hóa nguồn kinh phí cho công tác này.

 

Bồi dưỡng học sinh giỏi là một nội dung khó trong trường học. Với quy mô một trường THCS, thực hiện quy trình “Phát hiện, Tuyển chọn và Bồi dưỡng” đâu có dễ dàng. Nếu mỗi trường không tìm ra được biện pháp riêng khả dĩ chấp nhận được thì kết quả của công tác bồi dưỡng không thể nâng lên được.

Rất mong sự các đồng chí tham gia ý kiến, thảo luận dân chủ, không sợ bất đồng ý kiến. Vấn đề là đưa ra biện pháp phù hợp để công tác bồi dưỡng năm học tới và các năm tiếp theo, nhà trường có tiến bộ hơn, phấn đấu đạt mức trung bình của cấp học.

                                                                      TRƯỜNG THCS YÊN PHONG

 

 

 

([1]) Năm 2013 do tập trung hoàn thiện các yêu cầu để công nhận chuẩn quốc gia, phần kinh phí tập trung chi lắp đặt phòng vi tính, máy vi tính cho giám hiệu, công đoàn, kế toán, bổ sung máy chiếu và các thiết bị khác,…

I. Phần thứ nhất: Những vấn đề nêu trong Phương hướng trong kế hoạch triển khai nhiệm vụ năm học.

1. Những thuận lợi.

Trong nhiều năm qua, nhà trường luôn được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo ngành GD&ĐT huyện; sự quan tâm, động viên của cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể, sự ủng hộ của nhân dân và sự đồng tình của cha mẹ học sinh.

Quy mô trường, lớp đang ở giai đoạn ổn định với trên 400 học sinh với 13 lớp, bình quân xấp xỉ 32 Hs/lớp. Nề nếp, kỷ cương đang có tiến bộ rõ nét. Trường đủ giáo viên, khá hợp lý về cơ cấu, chất lượng đào tạo đạt chuẩn cao, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ hiện tại; Yên Phong là đơn vị ở trong nhóm trường khá trong về cơ sở vất chất.

 2. Một số khó khăn.

Đội ngũ giáo viên có chất lượng đào tạo tốt nhưng chưa đồng đều, chưa tạo ra được sức bật rõ rệt. Chất lượng văn hóa đại trà nhìn chung còn thấp, phát triển chậm; chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi chưa vững chắc, thiếu tính ổn định. Trong số học sinh được chọn bồi dưỡng vẫn còn một số em chưa chịu khó, chưa có ý chí vươn lên.

Tuy được công nhận lại đạt chuẩn quốc gia nhưng cơ sở vật chất, các điều kiện mới mới chỉ đáp ứng một phần cho dạy và học trước mắt. Việc đầu tư về CSVC, trang thiết bị, đồ dùng dạy học còn hạn chế do nguồn kinh phí còn quá ít.

3. Thực trạng của nhà trường đầu năm học 2015-2016:

a) Về học sinh. Yên Phong là đơn vị có sĩ số thứ tư trong huyên (Sau Yên Nhân 619; Yên Thịnh 458; Yên Đồng 514), cao hơn 25% bình quân sĩ số các trường THCS, là điều kiện thuận lợi, là cơ sở để chọn lựa đối tượng bồi dưỡng học sinh giỏi.

b) Đội ngũ: Với 33 biên chế (22 nữ), 24 đảng viên (72,7%); Giáo viên đủ về số lượng, khá hợp lý về cơ cấu bộ môn. Tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn 27/27 (100%), trong đó trên chuẩn 24/27 (88,9,3%). Trong 27 giáo viên, có 20 người đạt GVG cấp huyện (Tỉ lệ 70,1%), 05 người đạt GVG cấp tỉnh (18,5%); Tỉ lệ giáo viên các môn văn hóa cơ bản đủ về số lượng. Nhìn chung, đội ngũ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ hiện tại.

c) Cơ sở vật chất: Nhà trường cơ bản đạt yêu cầu về CSVC, đảm bảo điều kiện phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ. Mặc dù là đơn vị ở trong nhóm trường khá về cơ sở vất chất của cấp học trong huyện, nhưng vẫn cần có sự đầu tư lớn hơn nữa.

4.  Phư­­ơng h­­ướng, chỉ tiêu.

Tranh thủ sự lãnh đạo của ngành, của cấp ủy, chính quyền địa phương, bám sát các nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2015-2016, triển khai các nội dung công tác phù hợp với tình hình thực tiễn của nhà trường và địa phương. Tiếp tục xây dựng kỷ cương, nền nếp làm việc của cán bộ, viên chức nhằm tạo sự chuyển biến tích cực trong năm học và thể hiện được sự đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; làm cho nhà trường có chuyển biến một bước về chất lượng giáo dục toàn diện;

Cố gắng đảm bảo đủ số học sinh dự thi học sinh giỏi các môn văn hóa theo quy định và dự thi các nội dung phong trào. Khối 9 có 5- 6 học sinh đạt giải huyện; 01 đến 02 học sinh đạt giải tỉnh; Khối 6,7,8 có 30 - 35 học sinh đạt giải cấp huyện. Như vậy, chỉ tiêu được công nhận HSG huyện trong năm học khoảng 40 giải.

II. Phần thứ hai. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Chỉ đạo chung. Trên cơ sở thực hiện tốt chương trình đại trà, tập trung vào việc bồi dưỡng học sinh giỏi các môn văn hóa và các nội dung thi phong trào hàng năm. Các môn thống nhất về kế hoạch, nội dung, thời gian và đối tượng dạy bồi dưỡng. Nâng số buổi dạy phù hợp với thời gian tổ chức thi cấp huyện để đảm bảo yêu cầu kiến thức cho học sinh dự thi. Tổ chức dạy tin học cho khối 6,7 và lớp 8A để có học sinh dự thi HSG môn tin học (môn khuyến khích) năm học 2016-2017;

2. Về công tác chuyên môn.

Nhà trường tính toán thực tế về đội ngũ hiện có về năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm để phân công chuyên môn (phân công lao động) từ đầu năm học. Từ đó, phân công cụ thể cho các giáo viên đảm nhiệm việc bồi dưỡng học sinh các môn thi. Các giáo viên dạy cùng khối thống nhất việc chọn lựa học sinh theo khả năng của các em; nhóm môn của khối thống nhất nội dung chương trình, thời gian (số buổi dạy) cần thiết cho từng môn. Đồng thời, giáo viên đăng ký chỉ tiêu về số lượng học sinh bồi dưỡng (Có tên cụ thể) và dự kiến số giải đạt được. Giáo viên lập kế hoạch bồi dưỡng của môn dạy được phân công. Giám hiệu duyệt kế hoạch cho giáo viên thực hiện. Phần nội dung kế hoạch bồi dưỡng các môn có dự tính thêm nội dung, thời gian bổ sung nếu thấy cần thiết. Trên cơ sở kế hoạch cá nhân, nhà trường ấn định thời gian bắt đầu bồi dưỡng. Việc dạy bồi dưỡng thực hiện vào các buổi chiều, xếp xen lịch dạy học thêm và không để học sinh mất quyền lợi về học thêm.

Đối với học sinh lớp 9, giáo viên tính đến khả năng học sinh nếu không được chọn vào các đội tuyển HSG huyện đợt I sẽ được bổ sung vào học các môn thi đợt II. Khả năng này có một khó khăn lớn khó khắc phục: Thời gian vật chất còn ít, mặt khác, các em chưa đủ năng lực tiếp thu và tự học để theo kịp chương trình. Và đây cũng là nội dung Phòng Giáo dục & Đào tạo cần tính toán sao cho phần lợi thế cao hơn để các em chọn vào các môn Sinh, Sử, Địa dự thi tỉnh có kết quả cao nhất.

Sau khi duyệt kế hoạch, nhà trường đã nắm được danh sách học sinh tham dự bồi dưỡng các môn và chốt chỉ tiêu đạt giải HSG các cấp để đưa vào Kế hoạch triển khai nhiệm vụ năm học hoặc điều chỉnh chỉ tiêu cho phù hợp. Năm học 2015-2016, trường THCS Yên Phong có các nội dung:

Bồi dưỡng và dự thi 27/29 nội dung thi HSG các các môn văn hóa và các nội dung thi trên mạng internet

Về các nội dung thi phong trào: Cuộc thi “Vận dụng kiến thức liên môn …, Nghiên cứu khoa học … đối với học sinh; Dạy học theo chủ đề tích hợp đối với giáo viên”.

Đối với nội dung này, tinh thần chỉ đạo chung là tham gia đầy đủ các cuộc thi và với ý thức cao nhất, phấn đấu có nhiều đề tài tham dự. Tổ xã hội chịu trách nhiệm cuộc thi “Dạy học theo chủ đề tích hợp đối với giáo viên”. Tổ tự nhiệm chịu trách nhiệm 02 cuộc thi “Nghiên cứu khoa học … đối với học sinh” và Vận dụng kiến thức liên môn …”. Bởi lẽ, hai năm qua nhà trường đã có sản phẩm đạt giải Quốc gia, một lợi thế của trường THCS Yên Phong.

Năm học 2013-2014, có 02 Học sinh Đồng giải Ba cấp tỉnh và giải Khuyến khích Quốc gia cuộc thi “Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống cho học sinh trung học” do Đ/c Trần Thị Nhàn hướng dẫn và Yên Phong là trường duy nhất trong huyện có đề tài dự cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn lớp 9 toàn quốc và đạt giải Khuyến khích Quốc gia.  Năm học 2014-2015, Đ/c Phạm Thị Sáu với đề tài “Sơ lược mỹ thuật thời Lý”, đoạt giải Nhì cấp Tỉnh và giải Khuyến khích quốc gia duy nhất của huyện Yên Mô trong cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợp đối với giáo viên.

Từ 10/2015, trường giao cho tổ chuyên môn chịu trách nhiệm các cuộc thi:

1- Cuộc thi Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tế đối với học sinh trung học. Phấn đấu có giải cấp tỉnh. Có 03 nhóm học sinh với các đề tài:

- Môn Hóa 9: “Vì sao phèn chua lại làm sạch nước”, nhóm 03 học sinh.

- Môn Công nghệ 9: “Một số phương pháp làm chín quả tự nhiên”, 03 học sinh.

- Môn Công nghệ 6: “Vì sao đường lại làm dưa muối mau chua. 03 học sinh.

2- Cuộc thi “Nghiên cứu khoa học … đối với học sinh”. Đây là nội dung tham dự lần đầu. Thầy và trò làm quen để chuẩn bị cho các năm tiếp theo.

3- Cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợp đối với giáo viên. Phấn đấu có ít nhất 02 giải cấp tỉnh và có sản phẩm dự thi quốc gia. Có 04 đề tài đăng ký theo nhóm giáo viên: 

- “Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa” - Môn Địa lý lớp 7; Nhóm GV Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Thanh Hương.

- “Bảo tồn và phát triển văn hóa hát xẩm”, môn Âm nhạc.

- “Yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên”, môn Giáo dục công dân.

- Unit 6: “Environment” – English 9. môn tiếng Anh 9.

Ngay từ đầu năm, một số nội dung thi được thống nhất trong tổ chuyên môn và lãnh đạo trường: môn Toán lớp 9 và Hóa học lớp 9, học sinh không đủ khả năng theo học nên không bồi dưỡng 02 môn này. Nội dung Nghiên cứu khoa học đối với học sinh do giáo viên chuẩn bị tham dự Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện, không có thời gian hướng dẫn học sinh nên phải tạm dừng.

III-Kết quả các cuộc thi:

1. Thi HSG các môn văn hóa và thi trên mạng internet 2015-2016.

Nội dung thi

Dự kiến chỉ tiêu đạt giải

Kết quả thi Huyện

TS

Nhất

Nhì

Ba

KK

TS

Nhất

Nhì

Ba

KK

Thi Văn hóa

28

0

2

7

19

25

1

3

8

13

Trên internet

11

0

0

2

9

16

0

2

8

6

Cộng

39

0

2

9

28

41

1

5

16

19

2. Các cuộc thi phong trào.

2.1- Cuộc thi Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tế đối với học sinh trung học. Có 03 đề tài, 01 đề tài được giải. “Một số phương pháp làm chín quả tự nhiên”, môn Công nghệ lớp 9, gồm 03 học sinh, Giải Ba cấp Tỉnh - Đ/c Nguyễn Thị Thảo hướng dẫn .

2.2- Cuộc thi “Dạy học theo chủ đề tích hợp…. Có 04 đề tài dự thi, 03 đề tài đoạt giải cấp Tỉnh; 02 đề tài được chọn dự thi quốc gia. 

- Unit 6: “Environment” – English 9. Nhóm GV Lê Thị Thanh Tần, Nguyễn Quang Tiến. Giải Ba cấp Tỉnh

- “Bảo tồn và phát triển văn hóa hát xẩm” môn Âm nhạc; Nhóm GV: Mai Thị Vân và Phạm Thị Sáu. Giải Nhì cấp Tỉnh. Dự thi Quốc gia.

- “Yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên”, môn GDCD, nhóm GV: Lê Thị Thu Hằng, Vũ Thị Thu Huyền. Giải Nhì cấp Tỉnh. Dự thi Quốc gia

2.3- Hội khỏe Phù Đổng:

- Cấp huyện: Tham gia nhiều nội dung, đạt kết quả khá.

- Cấp Tỉnh: Đoạt 01 HC Vàng 1.500m, 01 HC Đồng (đồng hạng môn bóng rổ) và 01 HC Đồng môn bơi.

3. Các nội dung, môn thi cấp Tỉnh:

- Thi văn hóa: 01 giải Nhì, 01 giải Khuyến khích môn Vật lý 9.

- Cuộc thi “Vận dụng kiến thức liên môn…”  01 giải Ba.

- Thi giải toán bằng tiếng Việt trên internet cấp tỉnh lớp 7: 02 giải Khuyến khích

Tổng hợp giải cấp Tỉnh

Tổng số giải

Chia ra

Văn hóa

Liên môn

VyOlympic 7

HKPĐ

TS

Nhất

Nhì

Ba

KK

Nhì

KK

Ba

KK

HCV

HCĐ

08

1

1

3

3

01

01

01

02

01

02

4. Kết quả bồi dưỡng HSG 4 năm qua.

a) Thi cấp huyện

Năm học

Các nội dung dự thi

Đạt giải cấp huyện

Lớp

 9

Tiếng

Anh mạng

Toán
mạng

Toán

TT 8

HSG 6,7,8

Cộng

TS giải

Trong đó

SL

Tỉ lệ

Nhất

Nhì

Ba

KK

Tỉ lệ giải chính thức

2012-2013

21

0

8

3

34

66

15

22,7

0

2

2

11

26,7

2013-2014

22

2

9

3

34

70

22

31,4

0

2

6

14

36,4

2014-2015

18

9

11

0

47

85

32

37,6

2

2

11

17

46,9

2015-2016

18

18

15

3

49

103

41

39,8

1

5

16

19

53,7

b) Thi cấp Tỉnh

Năm học

Văn hóa

Thi trên mạng

Liên môn

TDTT

Cộng

2012-2013

1

0

0

0

1

2013-2014

3

0

1

4

8

2014-2015

0

0

0

0

0

2015-2016

2

2

1

3

8

IV- Kinh phí cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi..

1. Về kinh phí:

Chủ động phần kinh phí chi trong nguồn ngân sách được cấp hàng năm. Tiết kiệm chi ở một số nội dung, chuyển sang hỗ trợ bồi dưỡng học sinh giỏi. Vận động kinh phí ngoài nhà trường để có nguồn thưởng cho thầy và trò.

2. Nội dung chi.

- Hỗ trợ công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, mỗi buổi dạy 100.000,đ.

- Hỗ trợ học sinh ngày đi dự các cuộc thi cấp huyện

- Thưởng cho học sinh đạt giải, giáo viên có HS đạt giải cấp huyện, cấp tỉnh.

+ Thưởng HS đạt giải HSG cấp huyện (Nhất, Nhì, Ba, KK hoặc HC Vàng, Bạc, Đồng cấp  tỉnh) số tiền/giải theo thứ tự:  60.000,đ; 40.000,đ; 30.000,đ và 20.000,đ;

+ Thưởng CB, GV đạt giải HSG cấp huyện (Nhất, Nhì, Ba hoặc HC Vàng, Bạc, Đồng cấp Tỉnh) bằng số tiền/giải theo thứ tự như thưởng học sinh.

+ Thưởng Học sinh đạt điểm cao (Bình quân bài thi từ 8,0 trở lên, không có điểm dưới 6,5) trong các kỳ đợt kiểm tra chất lượng cuối học kỳ. Không quá 15.000,đ/Hs.

Kinh phí chi cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một bài toán khó có lời giải. Nguồn ngân sách hàng năm rất eo hẹp, chủ yếu nguồn chi cho lương, các loại đóng góp và phụ cấp; phần chi thường xuyên tại trường có nhiều nội dung cần phải chi, nên không thể có nguồn chi bồi dưỡng HSG.

Để động viên thầy cô dạy bồi dưỡng, 3 năm trước, nhà trường cố gắng để có kinh phí hỗ trợ cho thầy cô bồi dưỡng HSG (Không dám nói trả công). Đưa phần kinh phí dạy bồi dưỡng HSG và kinh phí làm phần thưởng vào Định mức chi tiêu nội bộ hàng năm (Thực tế lãnh đạo ngành đã phê duyệt vì thấy hợp lý). Từ năm học 2012-2013, trường THCS Yên Phong đã cố gắng rất nhiều, nhưng mức hỗ trợ buổi dạy chưa thể tăng hơn 100.000,đ/buổi. Dạy bồi dưỡng tuy ít học sinh (khoảng 3 đến 7 em/môn) nhưng lao động của thầy sẽ vất vả hơn dạy chính khóa và dạy thêm. Để có 1 tiết dạy, thầy cô phải đầu tư nhiều hơn, điều mà ai cũng biết; mặc dù giáo viên chưa đòi hỏi về thù lao giảng dạy. Thực ra, bấy lâu nay, các thầy cô ở Yên Phong và nhiều trường khác vẫn nhiệt tình giảng dạy. Họ lấy kết quả học sinh giỏi hàng năm làm niềm vui.

Kinh phí trường THCS Yên Phong 03 năm qua:

(ĐVT: Ngàn đồng)

Năm

Kinh phí được giao

Lương, PC lương, các khoản đóng góp,

thanh toán cá nhân

Kinh phí chi khác

Số tiền

(%)

Trong đó chi cho
bồi dưỡng HSG

Số tiền

(%)

Số tiền

(%)

2013

  2.463.219

  2.220.580

90,15

142.639 ([1])

9,85

   14.000

5,8

2014

  2.426.525

  2.319.879

95,60

 106.646

4,40

   19.600

18,4

2015

  2.647.635

  2.511.776

94,87

 135.859

5,13

   22.400

16,5

Cộng

  7.537.379

  7.052.235

93,56

 385.144

6,44

   56.000

11,5

Qua bảng tổng hợp nguồn nguồn ngân sách và học phí trong 3 năm (2013,2014 và 2015), cho thấy: Nhà trường đã có sự tập trung cần thiết nhằm đảm bảo các yêu cầu của nhiệm vụ năm học. Trung bình mỗi năm chi cho bồi dưỡng HSG 11,5% trong số chi thường xuyên; Năm cao nhất 18,4%. Qua đó cho thấy sự khó khăn mà Ban giám hiệu trường Yên Phong băn khoăn là có cơ sở.

Kinh phí chi cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi 03 năm học qua là:

(ĐVT: Ngàn đồng)

Năm học

Các môn Văn hóa

Thi mạng - TDTT

Thưởng

HS đạt giải

Thưởng

GV có HS đạt giải

Tổng

số tiền

Số

buổi

Tiền/

buổi

Số

tiền

Số

buổi

Tiền/

buổi

Số

tiền

Trường

CM

HS

2012-2013

291

85

24.735

66

85

5.580

 

 

1.650

31.96

2013-2014

297

100

29.700

45

100

5.580

810

1.060

1.780

38.93

2014-2015

320

100

32.000

40

100

5.580

 

 

1.620

39.20

Cộng

980

 

86.400

151

 

16.700

810

1.060

5.050

110.95

Kinh phí chi cho bồi dưỡng HSG 03 năm là 110,95 triệu đồng. Từ ngân sách 56,0 triệu đồng, nguồn khác bù vào là 54,9 triệu đồng (bình quân mỗi năm phải bù gần 18,3 triệu đồng)

Năm học 2015-2016

Chi bồi dưỡng HS dự thi: 3.140.000,đ (Thi HSG và trên mạng: 1.380.000,đ; Dự thi HKPĐ: 1.760.000,đ)

Nếu lấy mức chi hỗ trợ buổi dạy và thưởng như năm 2014-2015 thì số tiền cần: 45 triệu đồng (Bao gồm hỗ trợ dạy bồi dưỡng gần 40 triệu đồng. Chi thưởng cho trò và thầy: 5,18 triệu đồng)

Nguồn chi hoạt động thường xuyên năm 2016 (NSNN và học phí) chỉ có:

(ĐVT: đồng)

Nguồn chi hoạt động thường xuyên

Chi bồi dưỡng HSG

NSNN

Học phí

Tổng được chi

Số tiền

Tỉ lệ so với tổng chi TX

47.837.000,

92.332.000,

140.169.000,

45.180.000,

32,23%

Như vậy, chi cho bồi dưỡng HSG sẽ lên 32,23% so với tổng số tiền được chi cho hoạt động thường xuyên. Lo quá, nhu cầu lớn mànguồn hạn chế, biết làm sao đây!?

V- Tồn tại

Bản thân học sinh đối rượng bồi dưỡng vẫn chưa chịu khó học. Số học sinh có ý chí vươn lên, say sưa với việc học chưa nhiều.

Đội ngũ chưa đồng đều về nhiều mặt, còn thiếu say mê và thiếu lửa. Một số môn trong nhiều năm không dự thi hoặc quá ít giải: Toán 9, Toán 8, Toán tuổi thơ 8.

Năm học 2015-2016 có tăng về số giải HSG cấp Huyện, cấp tỉnh nhưng tỉ lệ học sinh khối 6,7,8 đạt giải của Yên Phong còn thấp so với bình quân chung toàn huyện cả về số lượng giải (21,4 giải/trường) và số học sinh đạt giải chính thức. Kết quả xếp loại chung năm học 2015-2016 đứng vị trí thấp (13/17) các trường THCS.

VII. Bài học kinh nghiệm.

Trước hết, phải dạy tốt các giờ chính khóa để đảm bảo chất lượng đại trà (Dạy đủ, dạy đúng, dạy có chất lượng từng giờ một, dạy với tinh thần trách nhiệm cao nhất). Chất lượng đại trà không tốt thì bồi dưỡng HSG khó có kết quả; Sau đó là nâng chất lượng dạy buổi 2. Cũng là dạy có chọn lọc, phù hợp và cũng như dạy chính khóa. Nói tóm lại, việc dạy của thầy phải tốt hơn lên.

Thứ hai, phải làm sao tạo được sự chịu khó, ham học của học sinh. Từ công tác giáo dục ý thức học tập, ý thức rèn luyện các hành vi đạo đức của người học sinh, khuyến khích HS chăm học hơn, ngoan hơn. Chỉ có thầy cô làm việc này rốt ráo hơn, nghiêm túc hơn. Cha mẹ HS lâu nay vẫn thế: không để ý, thiếu quan tâm với việc học của con, mặt xã hội có những tiêu cực ảnh hưởng đến nhà trường.

Thứ ba, chọn lựa đội ngũ dạy bồi dưỡng học sinh giỏi theo hướng chuyên sâu. Có nghĩa là, mỗi giáo viên chuyên tâm vào một môn và phụ trách các nội dung thi liền kề (thi HSG văn hóa môn Toán và thi giải toán trên mạng internet bằng tiếng Việt, tiến tới giải toán bằng tiếng Anh; tiếng Anh văn hóa và tiếng Anh trên mạng internet; …. )

Thứ tư, đảm bảo sự kế tiếp có chọn lọc theo khả năng của học sinh. Có thể cho học sinh theo học bồi dưỡng các môn ở hai, ba hoặc 4 khối lớp liên tục. Cũng có học sinh đến năm lớp 8 hoặc lớp 9 phải chuyển sang môn có ưu thế hơn. Vấn đề là, làm thế nào để bù chương trình, kiến thức cho các em chuyển môn học bồi dưỡng để đảm bảo các em đồng đều vè chương trình. Như thế mới chọn được học sinh dự thi học sinh giỏi cấp huyện, mới có khả năng dự thi cấp tỉnh. Trong trường hợp này, thực thất là bỏ môn dự thi của trường theo quy định để cho học sinh dự thi môn có ưu thế ưu thế. Bỏ tức là chọn.

Thứ năm, phải nâng chất lượng bồi dưỡng HSG bằng biện pháp gì? Bằng biện pháp kinh tế. Dạy đại trà đã có phần dạy thêm. Công người dạy thêm trong mấy năm qua, thấp cũng được trả 160.000,đ, cao cũng được trả trên dưới 200.000,đ/buổi (Có trường thu ở mức cao nhất theo quy định thì trả cao hơn nhiều). Trong khí đó, dạy bồi dưỡng mới được hỗ trợ ban đầu có 85.00,đ/buổi dạy 03 tiết. Sau đó, cố gắng để có mức hỗ trợ 100.00,đ/buổi. Mặt khác, phần thưởng cho học sinh và giáo viên dạy còn quá thấp, mặc dù đã đưa vào định mức chi tiêu nội bộ hàng năm. Với Yên Phong, số học sinh chọn bồi dưỡng các môn đều ít; từ trước đến nay không thu tiền học bồi dưỡng. Vả lại có thu cũng chẳng được bao nhiêu. (Kinh phí hỗ trợ bồi dưỡng HSG quá ít. Phần hỗ trợ gọi là xã hôi hóa cũng chỉ có nguồn thưởng của Hội khuyến học xã mỗi năm một lần mà thôi.

Thứ sáu, để có kết quả bồi dưỡng HSG, ngoài yếu tố năng lực của HS, người thầy cần phải:

- Nắm vững chương trình môn học toàn cấp, chuyên sâu chương trình môn dạy của khối lớp được phân công.

- Biết chọn lựa nội dung kiến thức, phương pháp và kỹ năng dạy cho học sinh giỏi. Đặc biệt nắm được yêu cầu, mức độ, kỹ năng cần và đủ cho học sinh.

- Biết động viên học sinh học tập (Tạo được động lực, hứng thú cho các em);

- Tài liệu bồi dưỡng phải đầy đủ, bản thân người dạy phải tích cực sưu tầm, mua sắm làm giàu thêm nguồn tài nguyên cho bản thân.

- Người thầy ngoài kiến thức, phương pháp dạy học còn phải biết “truyền lửa” cho học trò tạo sự say mê, hứng thú, ham học hỏi, biết tìm tòi tự giác và tự tin. Thầy cô có say mê thì mới thổi cái say mê cho trò. Mặt khác, thầy cũng phải biết học từ học trò.

Hiện tại, vẫn còn giáo viên chưa nắm vững nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi (Còn lơ tơ mơ- Lời GV), nên chưa chọn lọc được nội dung bồi dưỡng, còn lúng túng trong phương pháp bồi dưỡng. Số giáo viên say mê với việc bồi dưỡng chưa nhiều (Học sinh tập huấn chuẩn bị thi HSG cấp tỉnh, GV không hề xem nội dung các em học gì). Trước đây, khi còn trường Năng khiếu, khi học sinh tập huấn dự thi quốc gia tại Ninh Bình, giáo viên Yên Mô còn mượn vở ghi của học sinh để xem họ dạy gì cho các em.

Thứ bảy: Khen thưởng, động viên kịp thời thầy cô và học sinh. Trước khi nghỉ hè tổ chức gặp mặt toàn thể thầy cô giáo, CMHS và HS đạt giải từ cấp huyện trở lên

VI. Phương hướng công tác bồi dưỡng HSG năm học 2016-2017.

Căn cứ kết quả năm học 2015-2016, nhà trường cần tập trung các nội dung:

Trước hết, tiếp tục phát huy những nội dung, những mặt đã làm tốt trong mấy năm vừa qua (về chủ trương, quản lý và điều hành, tổ chức dạy và học,…). Phải xác định rõ những môn, những nội dung mà trường có lợi thế và có khả năng cả về phía thầy cô và về phía học sinh. Tập trung vào môn, khối lớp giáo viên có khả năng bồi dưỡng và đạt kết quả cao. Chuyển hướng kịp thời theo Công văn Số 136/PGDĐT-THCS, ngày 13/5/2016 của Phòng GD&ĐT

Ví dụ: Nếu năm tới, chuyển số HS học Toán sang bồi dưỡng Vật lý thì trong hè hoặc từ tháng 8/2016 phải bổ sung kiến thức Vật lý lớp 8 cho các em có thể học và tiếp thu kiến thức Vật lý 9. Như vậy mới có HS dự thi HSG môn Vật lý 9. vv

Hai là, làm chuyển biến nhận thức và hành động của giáo viên về yêu cầu công tác bồi dưỡng HSG. Không phải là vấn đề “thi thố” lấy giải; Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ của giáo viên, là một nội dung nâng cáo chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục. Thầy cô có hiểu đầy đủ về yêu cầu, nắm vững nội dung, phương pháp và kỹ năng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi thì mới có kết quả cao hơn.

Ba là, phải có thêm nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Trong đó tăng cường phần động viên thầy trò cả về tinh thần và vật chất.

Bốn là, tự thân, mỗi thầy cô giáo cần nỗ lực hơn nữa.

V- Kiến nghị với phòng GD&ĐT.

Nên tổ chức hội thảo hoặc sinh hoạt chuyên đề về bồi dưỡng học sinh giỏi theo khối lớp cho giáo viên các trường trong huyện (Chọn những thầy cô giáo có năng lực, kinh nghiệm và kết quả bồi dưỡng HSG tốt nhất ở các trường làm báo cáo viên). Hoặc nên tổ chức hội thảo chuyên môn, mời các chuyên gia về nói chuyện hoặc giảng bài cho giáo viên về bồi dưỡng học sinh giỏi..

Duy trì việc xây dựng kế hoạch về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi rõ ràng, cụ thể từ đầu năm học về thời gian, thời điểm thi học sinh giỏi. Và nếu có thể là cả cấu trúc đề thi, từ đó tạo điều kiện cho giáo viên bồi dưỡng có trọng điểm.

Kinh phí cho bồi dưỡng học sinh giỏi còn hạn chế. Hiện tại số trường thu qua học sinh để tăng nguồn chi hầu như không có là bao; Chỉ trông vào ngân sách thì không được. Vì vậy, nên tạo cơ chế như thế nào để xã hội hóa nguồn kinh phí cho công tác này.

 

Bồi dưỡng học sinh giỏi là một nội dung khó trong trường học. Với quy mô một trường THCS, thực hiện quy trình “Phát hiện, Tuyển chọn và Bồi dưỡng” đâu có dễ dàng. Nếu mỗi trường không tìm ra được biện pháp riêng khả dĩ chấp nhận được thì kết quả của công tác bồi dưỡng không thể nâng lên được.

Rất mong sự các đồng chí tham gia ý kiến, thảo luận dân chủ, không sợ bất đồng ý kiến. Vấn đề là đưa ra biện pháp phù hợp để công tác bồi dưỡng năm học tới và các năm tiếp theo, nhà trường có tiến bộ hơn, phấn đấu đạt mức trung bình của cấp học.

                                                                      TRƯỜNG THCS YÊN PHONG

 

 

 

([1]) Năm 2013 do tập trung hoàn thiện các yêu cầu để công nhận chuẩn quốc gia, phần kinh phí tập trung chi lắp đặt phòng vi tính, máy vi tính cho giám hiệu, công đoàn, kế toán, bổ sung máy chiếu và các thiết bị khác,…

 

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 3
Hôm qua : 8
Tháng 10 : 207
Năm 2020 : 2.633